Thaco, VinFast, TC Group kiến nghị giữ ôtô là ngành kinh doanh có điều kiện
05/05/2026
Động thái này diễn ra trong bối cảnh Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, trong đó có đề xuất loại bỏ ngành nghề sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu ôtô khỏi danh mục đầu tư kinh doanh có điều kiện.
Ba doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực này là các tập đoàn Trường Hải (Thaco), Thành Công (TC Group) và VinFast đồng loạt kiến nghị Thủ tướng, Bộ Công Thương, Tài chính cân nhắc lại đề xuất trên.
Thaco cho rằng việc cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh với lĩnh vực ôtô chưa phù hợp. Bởi, đây là ngành công nghiệp nền tảng, tác động đến nhiều ngành, đồng thời có khả năng ảnh hưởng tới trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe cộng đồng, môi trường. Do vậy, sản phẩm có yêu cầu rất cao về chất lượng nhằm đảm bảo an toàn cho người sử dụng, cộng đồng.
Ôtô cũng có thời gian sử dụng lâu dài với yêu cầu chất lượng cao. Do đó, người tiêu dùng cần được bảo đảm quyền tiếp cận các nhà sản xuất, phân phối có đủ năng lực về bảo hành, bảo dưỡng, cung ứng linh phụ kiện thay thế và triệu hồi sản phẩm lỗi.
"Việc đáp ứng các điều kiện về nhà xưởng, dây chuyền, cơ sở bảo hành, bảo dưỡng không phải rào cản hành chính mà để đảm bảo chất lượng, trách nhiệm của nhà sản xuất suốt vòng đời sử dụng", Thaco nêu.
Cùng quan điểm, phía VinFast khẳng định các điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuật thể hiện năng lực, cam kết đầu tư nghiêm túc và lâu dài của doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp xe. Hãng cũng kiến nghị giữ lại các thủ tục hành chính trong nhập khẩu, sản xuất ôtô để tránh nguy cơ để lọt các doanh nghiệp không đáp ứng yêu cầu.
"Nguy cơ thiệt hại cho người tiêu dùng càng lớn hơn vì ôtô loại hàng hóa có giá trị cao, kỹ thuật và công nghệ phức tạp", VinFast lo ngại.
Những năm qua, các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp như hãng đã đầu tư lớn vào hệ thống nhà xưởng, dây chuyền công nghệ, nhân lực và hệ thống cung ứng nội địa. TC Group cho rằng việc bãi bỏ điều kiện kinh doanh bắt buộc sẽ không công bằng giữa các doanh nghiệp sản xuất lắp ráp với nhập khẩu ôtô.
"Nếu các điều kiện kinh doanh với xe trong nước và nhập khẩu bị bãi bỏ hoàn toàn, doanh nghiệp nhập khẩu có thể tham gia thị trường với rào cản thấp hơn. Điều này dẫn tới bất lợi cho các doanh nghiệp đã đầu tư và có chiến lược dài hạn vào sản xuất trong nước", hãng cho biết.

Trước đó, khi dự kiến đưa khỏi danh mục kinh doanh có điều kiện, Bộ Công Thương cũng đề cập tới một số rủi ro tương tự các doanh nghiệp trên. Ngoài ra, cơ quan này cũng cho rằng các quy định hiện hành thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư cơ sở vật chất để sản xuất, lắp ráp ôtô từ linh kiện rời. Nếu bỏ các quy định này, doanh nghiệp có thể nhập khẩu nguyên khối thân xe tương đối hoàn chỉnh và chỉ thực hiện các công đoạn lắp ráp đơn giản. Điều này sẽ khiến ngành công nghiệp ôtô trong nước mất động lực nội địa hóa và phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Bộ cũng không loại trừ một số quốc gia gần kề như Trung Quốc, đang dư thừa lớn công suất sản xuất ôtô, sẽ chuyển phần dư thừa này sang Việt Nam dưới dạng các dự án FDI lắp ráp đơn giản, nhằm lẩn tránh quy định về xuất xứ, từ đó xuất khẩu sang các quốc gia khác. Khi đó, Việt Nam có nguy cơ bị các quốc gia điều tra về hành vi trung chuyển hàng hóa, bị áp dụng các biện pháp thuế quan trừng phạt với nhiều ngành xuất khẩu khác.
Trong khi đó, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) lại cho rằng phương án bãi bỏ là phù hợp với xu thế cải cách và có đủ cơ sở thực tiễn.
Theo VCCI, hiện nay mọi xe ôtô sản xuất, lắp ráp hoặc nhập khẩu đều phải qua kiểm tra chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường theo các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trước khi được lưu hành. Hệ thống đăng kiểm, cơ chế triệu hồi sản phẩm khuyết tật và trách nhiệm sản phẩm theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã tạo ra lớp bảo vệ hậu kiểm đủ mạnh.
"Giấy chứng nhận sản xuất, lắp ráp và giấy phép kinh doanh nhập khẩu ôtô thực chất là lớp tiền kiểm chồng lên các công cụ quản lý kỹ thuật đã có, làm tăng chi phí tuân thủ mà không bổ sung thêm giá trị bảo vệ an toàn công cộng", VCCI đánh giá.
Cơ quan này đánh giá các yêu cầu về cơ sở bảo hành, ủy quyền chính hãng và giấy chứng nhận chất lượng kiểu loại từ nước sản xuất tạo rào cản gia nhập rất cao, khiến thị trường nhập khẩu ôtô bị chi phối bởi một số ít doanh nghiệp lớn. Hệ quả là giá ôtô tại Việt Nam vẫn thuộc nhóm cao nhất khu vực ASEAN khi so sánh theo sức mua tương đương, trong khi người tiêu dùng có ít lựa chọn hơn.
Về lo ngại trung chuyển hàng hóa và dư thừa công suất, VCCI cho rằng Việt Nam có đủ khung pháp lý về chống bán phá giá, trợ cấp và tự vệ thương mại. Quy tắc xuất xứ trong các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam là thành viên cũng quy định rõ tỷ lệ hàm lượng giá trị gia tăng nội địa để được hưởng ưu đãi thuế quan. Đây là các công cụ phù hợp với cam kết quốc tế để xử lý vấn đề lẩn tránh xuất xứ, thay vì sử dụng điều kiện kinh doanh như một hàng rào kỹ thuật trá hình.
Thực tế sau hơn 20 năm, tỷ lệ nội địa hóa của ngành ôtô Việt Nam vẫn ở mức thấp, trung bình 7-10% với xe con, so với 70-80% tại Thái Lan. Theo VCCI, thực tế này cho thấy rào cản gia nhập thị trường không phải là công cụ hiệu quả để thúc đẩy nội địa hóa. Thay vào đó, các chính sách như ưu đãi thuế cho linh kiện sản xuất trong nước, hỗ trợ nghiên cứu, phát triển công nghiệp hỗ trợ sẽ phù hợp hơn.
Ngoài ra, cơ quan này cũng cho rằng các điều kiện kinh doanh hiện hành được thiết kế cho mô hình sản xuất ôtô truyền thống với các công đoạn hàn, sơn, lắp ráp có thể không còn phù hợp, tạo rào cản cho các nhà đầu tư mới trong lĩnh vực xe điện, xe tự hành. Kinh nghiệm quốc tế tại Mỹ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc cho thấy các nước này không sử dụng cơ chế cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, lắp ráp mà quản lý hoàn toàn bằng hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ chế triệu hồi bắt buộc và trách nhiệm sản phẩm theo pháp luật dân sự.
Vì vậy, VCCI ủng hộ phương án bãi bỏ ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, đồng thời đề nghị Bộ Công Thương phối hợp với Bộ Giao thông vận tải hoàn thiện hệ thống quy chuẩn kỹ thuật, cơ chế hậu kiểm để bảo đảm an toàn cho người sử dụng, cộng đồng.
Ngành công nghiệp ôtô trong nước đang chiếm trên 3% giá trị tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tạo việc làm cho khoảng 200.000 lao động trực tiếp có kỹ năng thuộc lĩnh vực sản xuất lắp ráp ôtô và công nghiệp hỗ trợ. Sản lượng xe sản xuất, lắp ráp trong nước liên tục tăng, từ 323.892 xe năm trong 2020 lên khoảng hơn 500.000 xe trong năm 2025, chiếm khoảng 65-75% tổng số xe bán ra.
Hiện, cả nước có khoảng 650 nhà sản xuất và phụ tùng ôtô tại Việt Nam, trong đó doanh nghiệp cung ứng linh kiện đạt tiêu chuẩn nhà cung ứng cấp 1 cho các hãng ô tô lớn lên tới hơn 400 doanh nghiệp, tăng hơn 200% so với năm 2016.
Phương Dung
Nguồn từ: Vnexpress.net
